Đánh bóng bằng đài cao su và bột đánh bóng là bước kết thúc quen thuộc sau cạo vôi. Bề mặt nhẵn giúp hạn chế mảng bám bám lại và mang lại cảm giác sạch cho bệnh nhân. Nhưng đây cũng là thao tác có ma sát và sinh nhiệt, nên cần thực hiện đúng kỹ thuật.
1. Đánh bóng chọn lọc thay vì đánh bóng toàn bộ
Nhiều cơ sở đào tạo hiện nay khuyến nghị đánh bóng chọn lọc – chỉ đánh bóng những vùng còn vết dính ngoại lai (trà, cà phê, thuốc lá) sau khi đã làm sạch, thay vì đánh bóng mọi mặt răng theo thói quen. Lý do: mỗi lần đánh bóng đều lấy đi một lớp rất mỏng bề mặt men, trong khi lớp men ngoài cùng giàu fluor nhất.
Tránh đánh bóng lên vùng xê-măng, ngà lộ ở cổ răng vì có thể làm mòn bề mặt và tăng ê buốt.
2. Tốc độ, lực và bột – ba yếu tố kiểm soát nhiệt
- Tốc độ thấp: dùng tay khoan chậm. Nghiên cứu 2024 cho thấy đánh bóng ở tốc độ rất cao (10.000 vòng/phút) gây tổn thương men đáng kể hơn so với tốc độ thấp.
- Lực nhẹ: chỉ để mép đài hơi loe ra trên mặt răng; ấn mạnh làm nhiệt trong buồng tủy tăng.
- Luôn có đủ bột: thử nghiệm cho thấy đài cao su chạy khô (không có bột) tạo nhiệt độ buồng tủy cao nhất.
- Di chuyển liên tục, chạm ngắt quãng, không giữ một chỗ quá lâu.
3. Chọn bột đánh bóng
| Độ hạt | Khi dùng |
|---|---|
| Thô | Vết dính cứng đầu; chỉ dùng điểm, sau đó phải đánh lại bằng hạt mịn |
| Trung bình | Vết dính thông thường |
| Mịn / rất mịn | Hoàn tất bề mặt, quanh phục hồi composite, sứ |
Nên dùng loại bột mịn nhất mà vẫn loại bỏ được vết dính để tránh để lại vết xước trên bề mặt. Với phục hồi thẩm mỹ, dùng bột chuyên dụng không làm mờ composite hoặc sứ.
4. Vệ sinh – vô khuẩn
Đài đánh bóng cao su là vật tư dùng một lần: thay mới cho mỗi bệnh nhân. Lấy bột ra cốc nhỏ riêng, tránh nhúng đài đã dùng vào lọ bột chung.
Bài viết mang tính chất tham khảo, tổng hợp từ tài liệu chuyên ngành chỉnh nha – nha khoa phục hồi. Chẩn đoán và chỉ định điều trị cụ thể cần do bác sĩ Răng Hàm Mặt thực hiện sau khi thăm khám.